|
Khái niệm về niềm hy vọng
trên cơ sở đức tin trong Tân
Ước và trong Giáo Hội sơ
khai
4.
Chúng ta đă nêu lên câu hỏi
là liệu cuộc gặp gỡ với
Thiên Chúa - Đấng mà nơi
Chúa Kitô đă tỏ lộ cho chúng
ta thấy thiên nhan của Ngài,
và mở ḷng Ngài ra cho chúng
ta - có thể không chỉ có
tính “thông tin” mà c̣n có
tính “tác động” – nghĩa là
cuộc gặp gỡ đó có thể thay
đổi cuộc đời ta để ta nhận
ra là ḿnh đă được giải
thoát qua niềm hy vọng thể
hiện nơi cuộc gặp gỡ này hay
không? Trước khi cố gắng trả
lời câu hỏi này, chúng ta
hăy trở lại lần nữa với Giáo
Hội sơ khai. Không khó để
nhận ra rằng kinh nghiệm của
thiếu nữ nô lệ Phi Châu
Bakhita cũng là kinh nghiệm
trong thời kỳ h́nh thành
Kitô Giáo của nhiều người,
những người đă bị đánh đập
và bị kết án làm nô lệ. Kitô
Giáo không mang lại một sứ
điệp cách mạng xă hội kiểu
như cuộc cách mạng bất hạnh
của Spartacus, người mà cuộc
tranh đấu đă dẫn đến đổ máu
nhiều hơn nữa. Chúa Giêsu
không phải là Spartacus,
Ngài không dấn thân trong
một cuộc chiến giải phóng
chính trị như Barabbas hay
Bar- Kochba. Chúa Giêsu,
chính Ngài, đă chịu chết
trên Thánh Giá, mang lại cho
chúng ta những ǵ hoàn toàn
khác: một cuộc gặp gỡ với
Chúa của các chúa, một cuộc
gặp gỡ với Thiên Chúa hằng
sống, và qua đó gặp gỡ một
niềm hy vọng c̣n mạnh hơn
những cơ cực của kiếp nô lệ,
một niềm hy vọng, do đó,
thay đổi cuộc sống và thế
giới tự bản chất bên trong.
Cái mới ở đây có thể được
nh́n thấy với một sự minh
bạch nhất trong Thư gởi
Philêmôn của Thánh
Phaolô. Đây là một lá thư
rất riêng tư, mà Thánh
Phaolô đă viết từ trong tù
và được trao cho người nô lệ
chạy trốn Ônêsimô để trao
cho chủ là Philêmôn. Thật
thế, Thánh Phaolô đă gởi
người nô lệ này lại cho ông
chủ mà anh ta đă bỏ trốn
“Tôi van xin anh cho đứa con
của tôi, đứa con tôi đă sinh
ra trong cảnh xiềng xích..
tôi xin gửi nó về cho anh;
xin anh hăy đón nhận nó như
người ruột thịt của tôi… Nó
đă xa anh một thời gian, có
lẽ chính là để anh được lại
nó vĩnh viễn, không phải
được lại một người nô lệ,
nhưng thay v́ một người nô
lệ, th́ được một người anh
em rất thân mến..” (Plm
1:10-16). Xét về vị thế dân
sự mà nói, con người có thể
là tôn chủ hay nô lệ. Nhưng
họ đă trở nên anh chị em với
nhau v́ họ đều là thành viên
của một Giáo Hội duy nhất –
đó chính là cách thế những
Kitô hữu đối xử với nhau.
Qua phép Rửa Tội họ được tái
sinh, họ được uống cùng một
Thần Khí và cùng nhau lănh
nhận Ḿnh Thánh Chúa. Cho dù
cấu trúc bên ngoài vẫn giữ
nguyên, điều này đă thay đổi
xă hội trần thế từ bên
trong. Khi Thư gởi các
tín hữu Do Thái nói rằng
những Kitô hữu trên trần
gian này không có một quê
hương vĩnh cửu, nhưng t́m
kiếm một quê hương trong
tương lai (x Dt
11:13-16; Phil 3:20),
th́ điều này không có nghĩa
là họ chỉ sống cho tương
lai: người Kitô hữu xem xă
hội hiện tại như một nơi tha
hương; họ thuộc về một xă
hội mới là mục đích của cuộc
lữ hành trần thế, và là điều
luôn được trông mong trong
suốt cuộc lữ hành này.
5. Chúng ta cần thêm vào một
nhận định nữa. Thư Thứ
Nhất gởi các tín hữu thành
Côrintô (1:18-31) nói
với chúng ta rằng đa số các
tín hữu Kitô tiên khởi thuộc
về tầng lớp xă hội thấp, và
chính v́ thế họ sẵn sàng đón
nhận niềm hy vọng mới, như
chúng ta thấy trong trường
hợp của thánh nữ Bakhita.
Nhưng ngay từ buổi đầu cũng
đă có nhiều cuộc cải đạo
trong hàng quư tộc và giới
trí thức, v́ chính họ cũng
đang sống “vô vọng và không
có Chúa trong đời”. Huyền
thoại đă mất đi tính khả tín
của nó; tôn giáo của Đế Chế
La Mă đă suy thoái thành một
thứ nghi lễ đơn thuần được
cử hành thận trọng nhưng
không ǵ khác hơn là một
“tôn giáo chính trị”. Triết
học duy lư đă giới hạn những
thần minh bên trong phạm trù
của những ǵ không thực. Tuy
người ta có thể cảm nhận
được Thần Thánh trong những
cách thế khác nhau nơi những
lực của vũ trụ, nhưng một
Thiên Chúa mà người ta có
thể cầu nguyện với Ngài th́
không hiện hữu. Thánh Phaolô
đă minh họa khá chính xác
vấn nạn then chốt của tôn
giáo trong thời kỳ này khi
ngài tương phản cuộc sống
“theo Chúa Kitô” với cuộc
sống dưới sự khống chế của
“các lực vũ trụ” (Cl
2:8). Về phương diện này,
một đoạn văn của Thánh
Grêgôriô thành Nazianzen có
thể giúp soi sáng. Ngài nói
rằng chính khi Ba Nhà Đạo
Sĩ, được hướng dẫn bởi v́
sao, thờ lạy Chúa Kitô vị
Tân Vương, th́ khoa chiêm
tinh đă đến hồi kết thúc, v́
các v́ sao giờ đây di chuyển
trong một quỹ đạo được xác
định bởi Chúa Kitô. 2
Cảnh tượng này thực ra lật
ngược thế giới quan của thời
đó, một thế giới quan trong
một cách thế khác đă trở nên
thịnh hành một lần nữa trong
thời đại hôm nay. Không phải
những lực lượng trong vũ
trụ, những luật vật chất,
chi phối tối hậu thế giới và
nhân loại, nhưng chính Thiên
Chúa cai quản các v́ sao,
nghĩa là vũ trụ; không phải
những định luật về vật chất
và tiến hóa có tiếng nói sau
cùng nhưng là lư trí, ư chí,
t́nh yêu – một Ngôi Vị. Và
chúng ta biết Ngôi Vị này,
và Ngài cũng biết đến chúng
ta, thành ra, thực sự là thế
lực mù quáng của các yếu tố
vật chất không c̣n tiếng nói
sau cùng; chúng ta không
phải là những nô lệ của vũ
trụ và các định luật của nó,
chúng ta là những người tự
do. Trong những thời cổ đại,
sự suy xét lư trí cách thành
thực cũng nhận ra điều này.
Thiên đàng không phải là hư
vô. Đời sống không chỉ là hệ
quả của những định luật và
sự ngẫu nhiên, nhưng bên
trong mọi thứ và cùng lúc
vượt lên mọi thứ là một ư
chí, một Thần Khí mà qua Đức
Giêsu đă tỏ lộ chính Ngài
cho chúng ta như một T́nh
Yêu. 3
6. Những mộ đá thời Kitô
giáo tiên khởi đă minh họa ư
niệm này một cách hữu h́nh –
trong bối cảnh của cái chết,
khi phải đối diện với câu
hỏi không thể nào né tránh
được liên quan tới ư nghĩa
cuộc sống. H́nh ảnh Đức Kitô
được diễn giải trên các mộ
đá gồm hai h́nh ảnh chính:
đó là h́nh ảnh triết gia và
h́nh ảnh người chăn chiên.
Triết học vào thời kỳ đó
thường không được coi là một
ngành học bài bản khó hiểu,
như ta thấy ngày nay. Trái
lại, triết gia là người biết
cách dạy nghệ thuật thiết
yếu này: là thuật làm người
một cách chính danh – nghệ
thuật sống và chết. Chắc
chắn là từ lâu người ta đă
nhận ra là có nhiều người đi
đây đó khoác vào ḿnh bộ áo
triết gia, hoặc giả làm thầy
dạy đời, nhưng thực chất chỉ
là những kẻ lừa đảo, kiếm
tiền bằng môi miệng với lời
nói phỉnh lừa, trong khi
không có ǵ để nói về cuộc
sống thật. Thành ra, vị
triết gia chân chính, người
chỉ ra được nẻo đường sự
sống, th́ măi măi vẫn luôn
được tôn kính và được người
đời t́m đến. Cho tới cuối
thế kỉ thứ III, trên mộ phần
của một em bé ở Rôma, lần
đầu tiên chúng ta t́m được,
dưới nhăn kiến sự sống lại
của Lazarô, h́nh ảnh Đức
Kitô như là triết gia chân
thật, một tay Ngài cầm cuốn
Phúc Âm, tay khác cầm gậy lữ
hành của triết gia. Với
chiếc gậy của ḿnh, Ngài đă
chiến thắng sự chết; sách
Phúc Âm mang lại chân lư mà
các triết gia trước đó đă đi
t́m kiếm trong vô vọng. Nơi
h́nh ảnh này, h́nh ảnh đă
trở thành một nét chung
trong nghệ thuật bia mộ
trong một thời gian dài,
chúng ta thấy rơ điều mà cả
người học thức lẫn người
b́nh dân đều có thể t́m thấy
nơi Đức Kitô: Người nói cho
chúng ta biết con người thực
sự là ai và con người phải
làm ǵ để trở thành nhân bản
thực sự. Người chỉ cho chúng
ta con đường, và con đường
này là sự thật. Chính Người
vừa là Đường và là Sự Thật,
và v́ thế Người cũng là Sự
Sống mà tất cả chúng ta đang
t́m kiếm. Người cũng chỉ cho
chúng ta con đường sau cái
chết; chỉ có ai làm được
điều này mới thật sự là thầy
dạy của sự sống. Điều này
cũng trở nên tỏ tường nơi
h́nh ảnh người chăn chiên.
Cũng như h́nh ảnh triết gia,
qua h́nh ảnh người chăn
chiên, Giáo Hội sơ khai đă
có thể nói lên căn tính của
ḿnh với những kiểu mẫu nghệ
thuật La Mă hiện hành. Ở đó,
người chăn chiên thường được
coi là một diễn đạt chung về
ước mơ một cuộc sống thanh
b́nh và đơn sơ, mà thị dân
của những thành thị lớn luôn
ngưỡng vọng đến giữa những
băn khoăn của cuộc sống. Giờ
đây, h́nh ảnh đó được đọc
lên như một phần của một bối
cảnh mới, mang đến cho nó
một ư niệm sâu xa hơn: “Chúa
là Đấng Chăn Chiên của tôi:
tôi không thiếu ǵ... dù tôi
bước qua thung lũng tối tăm
sự chết, tôi không sợ sự dữ
nào, bởi v́ Chúa ở cùng
tôi... ” (Tv 23 [22]:1, 4).
Người chăn chiên thực là
người biết cả đến những nẽo
đường băng qua thung lũng sự
chết; người mà bước đi với
tôi dẫu là nẻo đường cuối
cùng của hiu quạnh, nơi mà
không ai có thể bước với
tôi, hướng đạo cho tôi đi
qua: th́ chính Người đă bước
qua nẻo đường đó, Người đă
xuống tận cơi chết, đă chiến
thắng sự chết, và giờ đây đă
trở về để dẫn đưa chúng ta
và cho chúng ta niềm xác tín
rằng, cùng với Người, chúng
ta t́m ra một con đường đi
qua được. Sự nhận thức rằng
c̣n có Một Đấng dù trong sự
chết vẫn bước theo tôi, và
với “cây roi và cây trượng
của Người an ủi phấn chấn
tôi, do đó “tôi không c̣n sợ
chi” (cf. Tv 23 [22]:4) — Đó
chính là “hy vọng” mới đă
phát sinh trên cuộc sống của
các tín hữu.
7. Chúng ta cần phải quay
lại Tân Ước một lần nữa.
Trong chương 11 của Thư
Do Thái (câu 1) chúng ta
t́m thấy một dạng định nghĩa
về đức tin trong đó liên kết
chặt chẽ nhân đức này với
đức cậy. Từ thời Phục Hưng
đă có những tranh căi giữa
những nhà chú giải Thánh
Kinh trên từ trọng tâm của
câu này, nhưng ngày nay một
cách thế hướng đến sự diễn
dịch đại kết dường như đang
khơi gợi lại vấn đề một lần
nữa. Tạm thời, tôi sẽ giữ
nguyên không dịch từ trọng
tâm này. Thành ra, câu đó sẽ
được đọc như sau: “Đức tin
là hypostasis cho
những điều ta hy vọng, là
bằng chứng cho những điều ta
không thấy”. Đối với các
Nghị Phụ và các nhà thần học
thời Trung Cổ, từ Hy Lạp
hypostasis đă được giữ
lại trong tiếng La Tinh bằng
thuật ngữ substantia.
Thành ra, bản dịch La Tinh
của đoạn văn vào thời Giáo
Hội sơ khai được đọc là:
Est autem fides sperandarum
substantia rerum, argumentum
non apparentium “Đức tin
là bản chất của những
điều ta hy vọng, là bằng
chứng cho những điều ta
không thấy”. Thánh Tôma
Aquinas, 4 khi
dùng thuật ngữ này của triết
học truyền thống mà ngài
thuộc về, đă giải thích điều
đó như sau: đức tin là một
habitus, nghĩa là, một xu
hướng ổn định tinh thần, qua
đó cuộc sống vĩnh cửu đâm rễ
trong chúng ta và lư trí
được dẫn dắt đến chỗ tán
thành điều nó không thấy
được. Khái niệm “bản chất”,
do đó, được thay đổi theo
nghĩa là qua đức tin, từ lúc
phôi thai, hay có thể nói là
khi “c̣n trong trứng nước” -
và như thế là theo “bản
chất” – đă hiện diện trong
ta những điều chúng ta hy
vọng: đó là cuộc sống tổng
thể, và chân thật. Và v́
chính điều này đă hiện diện,
sự hiện hữu này của điều sẽ
xảy đến cũng tạo ta sự chắc
chắn: “điều” chắc chắn phải
xảy đến này tuy chưa hữu
h́nh với thế giới bên ngoài
(nó không “xuất hiện”),
nhưng v́ sự kiện là chúng ta
mang nó bên trong ta như một
thực tại sơ khởi và năng
động, một cảm nhận nào đó về
nó cũng tồn tại ngay lúc
này. Đối với Luther, người
đặc biệt không thích Thư
Do Thái, khái niệm “chất
liệu”, trong bối cảnh quan
điểm về đức tin của ông ta,
chẳng có nghĩa ǵ. V́ thế,
ông ta hiểu thuật ngữ
hypostasis/substance
không theo nghĩa khách quan
(như một thực tại hiện diện
bên trong ta), nhưng theo
nghĩa chủ quan, như là một
thái độ nội tâm, và v́ thế
đương nhiên ông phải hiểu từ
argumentum như một xu
hướng của chủ thể. Trong thế
kỷ 20, sự diễn dịch này rất
thịnh hành – ít nhất là tại
Đức – cả nơi những nhà chú
giải Thánh Kinh Công Giáo,
đến mức bản dịch đại kết
cuốn Tân Ước bằng tiếng Đức,
được các Đức Giám Mục phê
chuẩn, đă dịch như sau:
Glaube aber ist: Feststehen
in dem, was man erhofft,
berzeugtsein von dem, was
man nicht sieht (Đức tin
là kiên định trong
những điều ta hy vọng, là
tin tưởng nơi những điều ta
không thấy). Điều này tự nó
không phải là sai, nhưng đó
không phải là ư nghĩa của
đoạn văn, v́ bản tiếng Hy
Lạp dùng từ elenchos
là từ không có nghĩa chủ thể
của từ “tin tưởng” nhưng có
một nghĩa như đối tượng của
từ “bằng chứng”. Do đó, gần
đây các nhà chú giải Thánh
Kinh Tin Lành đă đạt đến một
diễn dịch khác: “Tuy chưa
phải là một vấn nạn nhưng
hiểu biết cổ điển của Tin
Lành là không thể đứng vững
được” 5. Đức tin
không chỉ đơn thuần là sự
vươn tới của cá nhân hướng
về những điều sẽ xảy đến
nhưng đến nay vẫn hoàn toàn
vắng bóng: đức tin c̣n đem
lại cho chúng ta điều ǵ đó.
Đức tin đem đến cho ta ngay
cả lúc này đây những phần
của thực tại chúng ta đang
trông chờ, và thực tại này
đem đến cho chúng ta một
“bằng chứng” về những điều
c̣n chưa thấy. Đức tin kéo
tương lai về với hiện tại
đến mức tương lai không c̣n
đơn thuần là một điều ǵ đó
“chưa đến”. Sự kiện là tương
lai đang hiện hữu thay đổi
hiện tại; hiện tại này được
thực tại trong tương lai tác
động đến, và v́ thế những ǵ
của tương lai tuôn trào vào
những ǵ của hiện tại và
những ǵ của hiện tại tuôn
trào vào những ǵ của tương
lai.
8. Lối giải thích này càng
được củng cố và liên hệ với
đời sống hàng ngày hơn nữa
nếu chúng ta xét đến câu 34
trong Thư Do Thái,
được liên kết qua từ vựng và
nội dung với định nghĩa về
đức-tin-chất-chứa-hy-vọng và
lót đường cho định nghĩa đó.
Ở đây, tác giả đề cập với
các tín hữu, những người đă
phải trải qua kinh nghiệm
của bách hại và ngài nói với
họ “anh em đă thông phần đau
khổ với những người bị tù
tội, và đă vui mừng để cho
người ta tước đoạt của cải (hyparchonton
—Vg. bonorum), bởi
biết rằng ḿnh có những của
(hyparxin —Vg.
substantiam) vừa quư giá
hơn lại vừa bền vững”.
Hyparchonta chỉ về tài
sản, là điều góp phần tạo
nên phương tiện nâng đỡ trên
trần thế, thực ra là cơ sở,
là “chất liệu” cho cuộc sống
mà chúng ta phải phụ thuộc.
“Chất liệu” này, nguồn bảo
đảm cuộc sống b́nh thường,
đă bị tước đi khỏi các Kitô
hữu khi họ bị bắt bớ. Dù
vậy, họ đă đứng vững, bởi họ
xem chất liệu vật chất này
nhẹ như lông hồng. Họ có thể
từ bỏ nó v́ họ t́m thấy một
“cơ sở” tốt hơn cho sự hiện
hữu của ḿnh – một cơ sở
trường tồn, mà không ai tước
mất đi được. Chúng ta không
thể bỏ qua sự liên kết giữa
hai dạng “chất liệu”, giữa
phương tiện nâng đỡ hay cơ
sở vật chất và đức tin như
một “cơ sở”, một “chất liệu”
bền vững. Đức tin tạo cho
cuộc sống một cơ sở mới, một
nền tảng giúp chúng ta đứng
vững, một nền tảng làm tương
đối hóa cái nền tảng thông
thường là sự phụ thuộc vào
thu nhập vật chất. Một h́nh
thái tự do mới nảy sinh liên
quan đến nền tảng thông
thường của cuộc sống, là
điều dường như chỉ có thể
đưa ra sự nâng đỡ, mặc dù
hiển nhiên là ta không thể
phủ nhận ư nghĩa thông
thường của nó. H́nh thái tự
do mới này, sự nhận thức về
“chất liệu” mới mà chúng ta
đă được ban cho, được diễn
tả không chỉ riêng trong
việc tử đạo, khi con người
chống lại cường quyền của ư
thức hệ và các cơ cấu chính
trị, và qua cái chết của
ḿnh, canh tân thế giới.
Trên tất cả, sự tự do đó
được nh́n thấy nơi những
hành vi từ bỏ ḿnh, từ các
tu sĩ thời xa xưa tới Thánh
Phanxicô thành Assisi và
những vị trong thời đại
chúng ta đă bước vào những
ḍng tu và những phong trào
hiện đại, bỏ lại sau lưng
tất cả v́ t́nh yêu dành cho
Chúa Kitô, và để giúp những
ai đang đau khổ trong thân
xác và tâm hồn. Trong trường
hợp của họ, “chất liệu” mới
được chứng minh là “chất
liệu” thật; từ hy vọng của
những vị này, những người đă
rung động v́ Đức Kitô, hy
vọng vươn lên cho những ai
đang sống trong tăm tối và
vô vọng. Trường hợp của các
vị này cho thấy cuộc sống
mới thực sự làm chủ và là
“chất liệu” đem đến cuộc
sống cho tha nhân. Với chúng
ta, những người đang chiêm
ngắm những h́nh ảnh này,
cách thức hành động và sống
của họ là một “bằng chứng”
thực sự cho thấy
những ǵ sẽ xảy đến, lời hứa
của Chúa Kitô, không chỉ là
một thực tại mà chúng ta chờ
đón, nhưng là một thực tại
hiện hữu: Ngài thật là một
“triết gia” và một “mục tử”
Đấng chỉ ra cho chúng ta sự
sống là ǵ và có thể t́m
thấy nó nơi đâu.
9. Để hiểu sâu xa hơn suy tư
về hai dạng chất liệu này -
hypostasis và
hyparchonta - và về hai
lựa chọn trong cuộc sống thể
hiện nơi những thuật ngữ
này, chúng ta cần tiếp tục
với một suy tư ngắn về hai
từ có liên quan đến cuộc
tranh luận được t́m thấy nơi
chương thứ Mười của Thư
Do Thái. Tôi muốn đề cập
đến hai từ hypomone
(10:36) và hypostole
(10:39). Hypo- mone
thường được dịch là “nhẫn
nại” – bền đỗ, kiên định.
Biết cách chờ đợi như thế
nào, trong khi nhẫn nại chịu
đựng thử thách, là điều cần
thiết cho các tín hữu để
“nhận được điều đă hứa”
(10:36). Trong bối cảnh tôn
giáo của Do Thái Giáo cổ, từ
này được dùng để thể hiện
cho ḷng kỳ vọng Thiên Chúa,
Đấng được coi là biểu tượng
của Israel, cũng như cho sự
trung tín kiên định với
Thiên Chúa trên cơ sở vững
tin vào Giao Ước trong một
thế giới thù địch với Ngài.
V́ thế, từ này chỉ một hy
vọng sống động, một cuộc
sống dựa trên sự chắc chắn
của niềm hy vọng. Trong Tân
Ước, ḷng kỳ vọng Thiên
Chúa, thái độ vững tin nơi
Thiên Chúa này, có một ư
nghĩa mới: trong Chúa Kitô,
Thiên Chúa đă mạc khải chính
ḿnh. Ngài đă thông truyền
cho chúng ta “chất liệu” của
những ǵ đang đến, và v́ thế
ḷng trông mong Thiên Chúa
đạt đến một sự chắc chắn
mới. Đó là ḷng trông đợi
những ǵ sẽ đến từ viễn ảnh
của một hồng ân đă được trao
ban. Đó là sự trông đợi-
hướng về phía trước từ sự
hiện diện của Chúa Kitô, với
Đức Kitô, Đấng đang hiện
diện, mà hướng đến sự hoàn
hảo của Nhiệm Thể Ngài,
hướng đến sự quang lâm chắc
chắn của Ngài. Từ
hypostole, ngược lại, có
nghĩa là thu ḿnh lại do
thiếu can đảm nói công khai
và thẳng thắn một sự thật có
thể đem đến hiểm nguy. Ẩn
dấu do sự khiếp sợ dẫn tới
“hư vong” (Dt 10:39).
Trái lại, “Thiên Chúa đă
chẳng ban cho chúng ta một
thần khí làm cho chúng ta
trở nên nhút nhát, nhưng là
một Thần Khí khiến chúng ta
được đầy sức mạnh, t́nh
thương, và biết tự chủ” là
cách thế tuyệt đẹp mà Thư
Thứ Hai gởi Timôthêô (2
Tm 1:7) đă diễn tả về
thái độ căn bản của người
Kitô hữu.
Sự sống đời đời – Điều này
là ǵ vậy?
10. Đến nay chúng ta đă đề
cập đến đức tin và niềm hy
vọng trong Tân Ước và trong
thời kỳ Kitô Giáo tiên khởi;
nhưng luôn luôn rơ là chúng
ta đang đề cập đến không chỉ
quá khứ mà thôi. Thật vậy,
toàn bộ suy tư này liên quan
đến sống và chết cách đại
cương, và do đó, nó cũng
liên quan đến chúng ta nơi
đây và hiện nay. V́ thế,
chúng ta phải thẳng thắn đặt
câu hỏi: liệu đức tin Kitô
Giáo cũng dành cho chúng ta
ngày nay một niềm hy vọng
đổi-đời và nâng đỡ-cuộc-sống
hay không?
Liệu niềm hy vọng đó có tính
chất “tác động” với chúng ta
– đó có phải là một sứ điệp
nhào nặn cuộc đời ta trong
một cách thế mới, hay nó chỉ
mang tính chất “thông tin”
mà, lúc này đây, chúng ta
gác qua một bên, và thông
tin đó đối với chúng ta giờ
đây dường như đang bị đè bẹp
bởi những thông tin khác mới
mẻ hơn? Để t́m ra câu trả
lời, tôi muốn bắt đầu với
h́nh thức đối thoại cổ điển
trong nghi thức Rửa Tội được
cử hành khi tiếp rước một
hài nhi sơ sinh vào trong
cộng đoàn các tín hữu và
chào đón ơn tái sinh của hài
nhi trong Chúa Kitô. Đầu
tiên, vị linh mục hỏi cha mẹ
xem ông bà đặt tên cho con
trẻ là ǵ, và ngài tiếp tục
với câu hỏi: “Ông bà anh chị
em xin điều ǵ nơi Giáo
Hội?” Thưa: “Đức tin”. “Đức
tin đó đem lại cho ông bà
anh chị em điều ǵ?” “Sự
sống đời đời”. Theo đoạn đối
thoại này, các bậc cha mẹ
đang t́m kiếm đức tin cho
con cái họ, và sự hiệp thông
với các tín hữu, v́ họ thấy
nơi đức tin ch́a khóa dẫn
đến “sự sống đời đời”.
Ngày
nay cũng như trong quá khứ,
đó là toàn bộ ư nghĩa của
việc được rửa tội, được trở
nên Kitô hữu: đó không phải
chỉ là một hành động xă giao
trong cộng đoàn, không đơn
thuần là một sự tiếp đón vào
Giáo Hội. Các bậc cha mẹ
trông đợi nhiều hơn cho con
trẻ được rửa tội: họ mong
rằng đức tin, bao gồm cả bản
tính trần thế của Giáo Hội
và các phép bí tích sẽ đem
lại sự sống cho đứa trẻ -
một sự sống đời đời. Đức tin
là chất liệu của hy vọng.
Nhưng, một câu hỏi được đặt
ra: liệu chúng ta có thực sự
mong muốn điều này – là được
sống đời đời không? Có lẽ
nhiều người ngày nay từ
khước đức tin chỉ v́ họ
không thấy hứng thú nơi viễn
ảnh của cuộc sống đời đời.
Điều họ muốn không phải là
sự sống đời đời một chút
nào, nhưng là cuộc sống hiện
nay, cuộc sống mà đức tin
vào sự sống đời đời dường
như trở nên một điều ǵ đó
gây ngăn trở. Tiếp tục sống
đời đời – không chấm dứt –
dường như là một lời nguyền
hơn là một ân sủng. Sự chết,
phải thừa nhận, là ta muốn
tŕ hoăn nó bao lâu có thể.
Nhưng sống hoài, không dứt –
điều này, xét cho cùng, có
thể là ngao ngán và tối hậu
là không thể chịu đựng nổi.
Đây chính là một luận điểm
được đưa ra, chẳng hạn, bởi
Thánh Ambrose, một trong các
Giáo Phụ của Giáo Hội, trong
bài điếu văn cho người anh
em quá cố của ngài là
Satyrus: “Sự Chết không phải
là một phần của tự nhiên,
nhưng đă trở nên tự nhiên.
Tự thuở ban đầu Thiên Chúa
đă không truyền án phạt phải
chết; Ngài phải đề ra nó như
một phương dược. Cuộc sống
con người, v́ tội lỗi.. đă
bắt đầu cảm nhận gánh nặng
của sự bơ phờ trong lao động
không ngơi và trong buồn sầu
không thể chịu nổi. Cần phải
có giới hạn cho những đau
khổ của cuộc sống; cái chết
phải phục hồi lại điều sự
sống đă tước mất. Không có
sự trợ giúp của ơn sủng, bất
tử trở thành một gánh nặng
nhiều hơn là một ơn phúc”
6. Trước đó ít
lâu, Thánh Ambrose đă nói:
“Cái chết, do đó, không phải
là duyên cớ để khóc lóc, v́
nó là căn cớ cho ơn cứu độ
của nhân loại”.7
11.
Dù chính xác là Thánh
Ambrose muốn nói ǵ qua
những lời này đi chăng nữa,
thật đúng là việc loại trừ
sự chết hay tŕ hoăn nó dù
đến vô hạn hay không đều đặt
trái đất và nhân loại trong
một t́nh huống không thể
được, và ngay cả cá nhân
cũng không được lợi ǵ. Hiển
nhiên có một mâu thuẫn trong
thái độ chúng ta, là điều
cho thấy một mâu thuẫn nội
tại sâu xa trong chính sự
hiện hữu của chúng ta. Một
mặt chúng ta không muốn
chết; trước tiên là v́ những
người thân của chúng ta
không muốn chúng ta chết.
Nhưng mặt khác, chúng ta
chẳng muốn tiếp tục sống vô
hạn và trái đất cũng chẳng
được tạo thành theo quan
điểm đó. Chúng ta thật sự
muốn cái ǵ đây? Thái độ bất
nhất của chúng ta dẫn tới
một câu hỏi sâu xa hơn: thực
ra sự sống là ǵ? Và “đời
đời” nghĩa là sao? Có những
lúc nào đó đột nhiên chúng
ta thấy dường như là rơ
ràng: vâng, “sự sống” thật
là đây - đây chính là điều
mà sự sống phải là. Bên cạnh
đó, điều mà chúng ta gọi là
“sự sống” trong ngôn ngữ
hàng ngày chẳng phải là “sự
sống” thật chút nào. Thánh
Augustinô, trong một lá thư
ngỏ về cầu nguyện mà ngài
gởi cho bà Proba, một mệnh
phụ phu nhân góa và là thân
mẫu của ba viên lănh sự, có
lần đă viết: tối hậu là
chúng ta chỉ muốn điều này –
một “cuộc sống đầy ơn phúc”,
một cuộc sống đơn giản, một
“hạnh phúc” đơn sơ. Trong
phân tích cuối cùng, chúng
ta không xin ǵ khác hơn
trong kinh nguyện của chúng
ta. Cuộc lữ hành trần thế
của chúng ta không có mục
tiêu nào khác – tất cả chỉ
nhằm mục đích đó. Nhưng khi
đó, Thánh Augustinô cũng
nói: khi nh́n kỹ hơn, chúng
ta không biết tối hậu điều
chúng ta ao ước là ǵ, thực
ra chúng ta mong muốn cái
ǵ. Chúng ta chẳng biết ǵ
về thực tại này; ngay cả
trong những thời điểm chúng
ta nghĩ là có thể vươn tới
và động chạm đến nó, nó vượt
khỏi chúng ta. “Chúng ta
không biết điều mà chúng ta
nên cầu xin như chúng ta
phải làm”, ngài nói thế khi
trích dẫn Thánh Phaolô Tông
Đồ (Rom 8:26). Tất cả
điều chúng ta biết là điều
đó không phải như thế này,
thế nọ. Dù không biết tường
tận, chúng ta cũng biết là
thực tại này phải tồn tại.
Ngài viết: “Thành ra, trong
chúng ta có một mức độ ngu
dốt có ư thức (docta
ignorantia ) nào đó, có
thể nói như thế”. Chúng ta
không biết điều chúng ta
thực sự muốn; chúng ta không
biết “sự sống” thật này;
nhưng chúng ta biết rằng
chắc chắn có một điều chúng
ta không biết mà chúng ta
vẫn cảm thấy bị lôi cuốn về
đó. 8
12. Tôi nghĩ là trong cách
thế rất chính xác luôn có
giá trị này, Thánh Augustinô
đang diễn tả t́nh trạng
thiết yếu của con người, một
t́nh trạng đưa đến tất cả
những nghịch lư và hy vọng
của anh ta. Một mặt, chúng
ta muốn chính sự sống, sự
sống thật, không bị động
chạm đến ngay cả bởi cái
chết; nhưng một mặt chúng ta
lại không biết về điều chúng
ta cảm thấy bị lôi cuốn
hướng đến. Chúng ta không
thể ngừng vươn tới để đạt
được nó, nhưng chúng ta lại
biết là tất cả những ǵ
chúng ta có thể vươn tới hay
đạt được lại không phải là
điều chúng ta ước vọng.
“Cái” chưa biết này là “hy
vọng” thực sự thúc đẩy chúng
ta, và đồng thời sự kiện là
nó chưa tường minh là căn cớ
cho mọi h́nh thái thất vọng,
và cả cho tất cả những nỗ
lực, dù tích cực hay hủy
hoại, hướng đến sự chân thật
trần thế hay nhân loại.
Thuật ngữ “sự sống đời đời”
đă được đưa ra để đặt tên
cho “cái biết là không biết”
này. Dĩ nhiên, không thể
tránh khỏi, thuật ngữ không
đầy đủ này đă tạo ra ngộ
nhận. Thật vậy, “Đời đời”
gợi cho chúng ta ư tưởng về
điều ǵ đó không chấm dứt,
và điều đó làm chúng ta lo
sợ; “sự sống” khiến chúng ta
nghĩ đến cuộc sống mà chúng
ta biết và yêu mến nó, cũng
như không muốn đánh mất đi,
dù rằng thường khi nó mang
lại nhiều phiền nhiễu hơn là
thỏa măn, đến mức một mặt
chúng ta muốn, một mặt chúng
ta lại không muốn cuộc sống
đó. Hăy tưởng tượng chúng ta
đang được đứng bên ngoài cơi
tạm đang giam cầm chúng ta
và ở một mức nào đó cảm thấy
được rằng đời đời không phải
là một chuỗi vô hạn những
ngày tháng kế tiếp nhau của
thời gian, nhưng là điều ǵ
đó giống giây phút tột cùng
của thỏa măn hơn, trong đó
tổng thể ôm lấy chúng ta và
chúng ta ôm lấy tổng thể -
chúng ta chỉ có thể thử nghĩ
như vậy. Nó giống như là
nhào vào đại dương của t́nh
yêu vô hạn, một thời khắc
trong đó thời gian – trước
và sau - không c̣n hiện hữu
nữa. Chúng ta chỉ có thể nắm
bắt ư tưởng là một thời khắc
như vậy là cuộc sống đầy đủ
ư nghĩa, một sự nhận ch́m
mới mẻ chưa từng có vào
trong cơi bao la của nhân
sinh, trong đó chúng ta ngập
tràn niềm vui. Đó chính là
cách Chúa Giêsu đă diễn tả
trong Tin Mừng theo Thánh
Gioan: “Thầy sẽ gặp lại anh
em, ḷng anh em sẽ vui mừng;
và niềm vui của anh em,
không ai lấy mất được” (Ga
16:22). Chúng ta cần suy tư
theo những ḍng này nếu
chúng ta muốn hiểu đối tượng
của niềm hy vọng Kitô Giáo,
muốn hiểu về điều mà đức tin
của chúng ta, chất Kitô hữu
của chúng ta, khiến chúng ta
trông mong.9 |